Tóm tắt
1. Giới thiệu
2. Phương pháp Phân tích PFAS Không Mục Tiêu
2.1. Thách thức trong Phân tích PFAS Không Mục Tiêu
2.2. Kỹ thuật xử lý mẫu
2.3. Khối phổ phân giải cao
2.3.1. Hệ thống Quadrupole Time-of-Flight (QTOF)
2.3.2. Chế độ Thu thập Dữ liệu (Data Acquisition Modes)
2.3.3. Zeno Trap và ZenoTOF
2.4. Tiêu chí Đánh giá Độ tin cậy trong Phân tích Không Mục Tiêu
2.5. Các Phần mềm và Tiêu chí Phân tích Không Mục Tiêu Tin cậy
2.6. Sàng lọc dựa trên Phân mảnh Chẩn đoán (Diagnostic Fragment Screening)
3. Kết quả và Thảo luận
3.1. Các ví dụ điển hình về Phân tích PFAS Không Mục Tiêu
3.2. Vai trò của Độ phân giải cao trong Phân tích Không Mục Tiêu và/hoặc sàng lọc diện rộng
3.3. Tối ưu hóa phân tích không mục tiêu với các công nghệ khối phổ tiên tiến












Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Ghi chú kỹ thuật này mô tả một phương pháp kết hợp giữa xử lý mẫu và LC-MS/MS để phân tích 10 thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) phân cực trong cà chua, cam và yến mạch, sử dụng hệ thống SCIEX 7500+. Sắc ký HILIC trên cột Phenomenex Luna Polar Pesticides cho phép phân tách và giữ tốt (>4 phút) đối với các hợp chất rửa giải sớm như AMPA, glufosinate và glyphosate. Các mẫu spike nền, được chiết bằng phương pháp QuPPe cải tiến, cho thấy độ thu hồi trong khoảng ±30% đối với phần lớn các tổ hợp chất phân tích/nền mẫu, với %CV <20% dựa trên các phép thử lặp ba lần.
Bài viết này tóm tắt và lược dịch nội dung trong ghi chú ứng dụng “A robust and sensitive routine analysis method of 40 PFAS compounds in surface water using the SCIEX 7500 system” của các tác giả Karl A. Oetjen và Simon Roberts (SCIEX, USA). Cung cấp cho bạn đọc hướng tiếp cận liên quan tới việc xác định giới hạn phát hiện phương pháp trong phân tích các PFAS trong mẫu sữa công thức của trẻ em. Nội dung tập trung vào việc chọn mẫu sữa ít bị ô nhiễm về PFAS trên thị trường và việc xác định MDL tuân thủ theo AOAC SMPR và 40 CFR 136 Phụ lục B, cũng như 1 số yêu thách thức tới từ nhiễm chéo từ các vật tư trong phòng thí nghiệm và ảnh hưởng tới từ các cholic acid. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.
Tiêu chuẩn cấp nước phòng thí nghiệm xác định các loại nước khác nhau trong phòng thí nghiệm dựa trên các lý do về kỹ thuật và kinh tế. Mục đích của các tiêu chuẩn này là để đảm bảo chất lượng nước phù hợp được sử dụng cho một ứng dụng cụ thể, đồng thời hạn chế chi phí vận hành phòng thí nghiệm – Sản xuất nước Loại 1 đắt hơn nước Loại 2 hoặc Loại 3.
Thông thường, khi so sánh cấu hình giữa các thiết bị LC/MS với nhau, người sử dụng thường so sánh độ nhạy của máy theo hai giá trị là độ nhạy của thiết bị tính theo S/N (signal to noise hay tín hiệu trên nhiễu) và giá trị giới hạn phát hiện của thiết bị (Instrument detection limit).
Cả hai giá trị này đều sử dụng tín hiệu của Reserpine cho mode dương và Chloramphenicol cho mode âm. Vậy hai giá trị trên được tín như thế nào và giá trị nào thì tốt hơn cho khách hàng tham khảo?
Busulfal là một tác nhân alkyl hóa hai nhóm chức có tính khả dụng sinh học khác nhau nhiều trong từng đối tượng do các yếu tố như tuổi, nền bệnh và tương tác thuốc-thuốc.