👆Khuyến cáo bảo quản hệ thống và cột đối với khách hàng phân tích Amino acid bằng phương pháp dẫn suất trước cột AccQ-Tag của hãng Waters/ Mỹ.
Việc hư hỏng, giảm tuổi thọ, giảm hiệu năng của cột phân tích không chỉ xuất phát từ nhiễm bẩn cột từ mẫu phân tích, mà còn có thể tới từ nhiễm bẩn, vi khuẩn từ pha động và các kênh rửa. Dưới đây là 1 số khuyến nghị ngắn:
👉Pha động, các dung môi rửa hệ thống của hệ thống sắc ký siêu hiệu năng Acquity UPLC, sắc ký hiệu năng cao HPLC cần phải được thay thế trong vòng tối đa 03 ngày. Các chai dung môi cũng cần được tráng sạch trước khi pha pha động, dung môi mới.
Đối với pha động AccQ-Tag A, AccQ-Tag B khi mở nắp và không sử dụng, cần được bảo quản ở tủ mát 4oC và không quá 1 tháng. Chú ý: không sử dụng toàn bộ chai pha động vào hệ thống. Cần chia lượng pha động cần cho phép phân tích, phần còn lại được đậy nắp và bảo quản ở tủ mát trong vòng không quá 1 tháng.
👉Kênh rửa seal (rửa bơm dung môi) và kênh “strong need wash” (kênh rửa mặt ngoài kim tiêm mẫu) phải làm mới trong vòng 02 tuần nhưng đối với kênh rửa “weak needle wash” (kênh rửa bề mặt trong của kim tiêm mẫu) cần phải được làm mới trong vòng 03 ngày để tránh nhiễm bẩn. Bình chứa kênh rửa “weak needle wash” cần được tráng sạch và thay dung môi rửa mới, không được đổ thêm dung môi mới vào chai cũ.
👉Rửa cột luôn được khuyến cáo thực hiện hằng ngay sau khi phân tích mẫu. Quy trình rửa cột bắt đầu với lượng nhiều nước và tăng dần lượng dung môi hữu cơ, để loạn bỏ đệm muối và bảo quản khỏi vi khuẩn (98% nước, 2% ACN tới 100% ACN). Nếu cột không được sử dụng hơn 4 ngày, khuyến cáo bảo quản cột với 100%ACN bằng cách cài đặt tốc độ dòng 0.5ml/ phút và trong thời gian 30 phút.
👉Đối với mẫu thức ăn chăn nuôi và thực phẩm: Mẫu chứa nhiều chất béo, mẫu phải khử chất béo bằng quá trình oxy hóa trong môi trường acid (dùng acid Axiticic (Perfomic)) hoặc base hóa hoặc quá trình xử lý mẫu tương tự trước khi tạo dẫn suất phân tích. Chất béo dư thừa không được loại bỏ bởi quá trình thủy phân sẽ tích tụ trên cột, trên hạt nhồi sẽ làm giảm nhanh tuổi thọ cột phân tích.
Trung tâm Chăm sóc Khách hàng
(Customer Service Center-CSC)
☎☎☎Tổng đài: 0974540000
Ban Truyền thông
Đội ngũ chuyên gia của Thăng Long sẵn sàn hỗ trợ bạn lựa chọn giải pháp phù hợp
Chương 1: Phân tích Mục tiêu các Cannabinoid Tổng hợp trong Máu và Nước tiểu
Lời giới thiệu: Sau đây là bản tóm tắt lược dịch chương 1 từ cuốn sách: “Methods for Novel Psychoactive Substance Analysis, Methods in Pharmacology and Toxicology, của các biên tập Marta Concheiro và Karl B. Scheidweiler; DOI: https://doi.org/10.1007/978-1-0716-2605-4_1”. Người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492. Chương 1 này tập trung vào những thách thức và phương pháp phân tích mục tiêu các cannabinoid tổng hợp (SCs) trong máu và nước tiểu, một lĩnh vực phức tạp do sự đa dạng về cấu trúc hóa học và dược động học của SCs. Khác với các nhóm chất hướng thần mới (NPS) khác, SCs và chất chuyển hóa của chúng có tính chất hóa học biến đổi từ trung tính đến axit và có sự khác biệt giữa mẫu máu và nước tiểu, đòi hỏi các quy trình chiết xuất và phân tích chuyên biệt. LC-MS/MS là phương pháp phân tích mục tiêu phổ biến nhất do độ đặc hiệu, độ nhạy và tính linh hoạt cao, trong khi các phương pháp khác như GC-MS và xét nghiệm miễn dịch ít được sử dụng hơn. Quá trình phân tích bao gồm chuẩn bị mẫu (LLE, SPE hoặc kết tủa protein), định lượng với chất chuẩn, và phân tích dữ liệu sắc ký và khối phổ, trong đó việc hiểu rõ sự phân mảnh của các ion là rất quan trọng. Do đó, phân tích SCs đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về hóa học, sinh học, và các kỹ thuật phân tích, đồng thời cần liên tục cập nhật kiến thức do sự thay đổi liên tục của các SCs.
Keywords: LC-MS/MS, HRMS, NPS, novel psychoactive substances, suspect screening, multi-targeted screening, wastewater, nước thải, Hàn Quốc.
Giới thiệu: Bài viết này sẽ cung cấp tóm tắt và thông tin lược dịch về việc phân tích và xác định các chất hướng thần mới (NPS) trong các mẫu nước từ 29 nhà máy xử lý nước thải tại Hàn Quốc theo nghiên cứu “Target and suspect screening of (new) psychoactive substances in South Korean wastewater by LC-HRMS, DOI: 10.1016/j.scitotenv.2023.162613”. Về người dịch, TS. Lê Sĩ Hưng, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học BOKU Vienna (Cộng hoà Áo) ngành hoá phân tích, đã có trên 10 năm kinh nghiệm làm việc với các thiết bị khối phổ, tập trung vào ứng dụng các kỹ thuật khối phổ trong phân tích các chất chuyển hoá (metabolites) và protein trong các đối tượng mẫu sinh học, ORCID: 0000-0002-0762-3492.